Đó
là đánh giá của ông Trần Đức Lai, Thứ trưởng Bộ Bưu chính Viễn thông
về môi trường kinh doanh của các DN viễn thông và CNTT Việt Nam thời kỳ
hậu WTO.
- Ông đánh giá như
thế nào về khả năng cạnh tranh của các DN viễn thông và CNTT Việt Nam
hiện nay? Liệu chúng ta có đủ sức để cạnh tranh với các DN nước ngoài
sau khi Hiệp định thương mại Việt-Mỹ chính thức có hiệu lực và Việt Nam
trở thành thành viên của WTO?
Có thể khẳng định rằng
về phía Nhà nước, trong quá trình đàm phán Hiệp định Thương mại Việt
Nam - Hoa Kỳ cũng như đàm phán gia nhập WTO, chúng ta đã chủ động xây
dựng một lộ trình mở cửa phù hợp, đã tạo dựng một môi trường với các
yếu tố mang tính động lực, vừa hỗ trợ, thúc đẩy vừa tạo "sức ép" cho
các DN để tăng năng lực cạnh tranh, mở rộng thị trường và tích luỹ kinh
nghiệm cạnh tranh, đồng thời đưa ra các giải pháp phù hợp để bảo vệ
quyền lợi quốc gia.
Tuy nhiên, hội nhập có
thực sự thành công hay không phụ thuộc rất nhiều vào nỗ lực của các DN.
Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới cũng như trong khu vực như
Trung Quốc, Hàn Quốc và các nước ASEAN cho thấy khi mở cửa cạnh tranh,
thông qua chính sách hợp lý của Chính phủ, các DN đã có những điều
chỉnh hợp lý về tổ chức, cơ cấu lại sản xuất kinh doanh, chú trọng việc
phát triển thị trường trong và ngoài nước đồng thời đầu tư thích đáng
cho việc phát triển nguồn nhân lực, nên sức cạnh tranh tăng lên rõ rệt,
đủ sức giữ vững thị trường và cạnh tranh có hiệu quả với các công ty
nước ngoài.
- Hiện có ý kiến cho
rằng, các DN CNTT và viễn thông của Việt Nam đang quá lạc quan, thậm
chí chủ quan về triển vọng phát triển sau WTO. Theo ông, các DN có lý
do nào để lạc quan và ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?
Việc Việt Nam sẽ trở
thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) chỉ còn là vấn
đề thời gian. Khi đã bước vào sân chơi chung toàn cầu về thương mại và
dịch vụ, chúng ta sẽ có nhiều cơ hội để phát triển,... mở rộng thị
trường cả trong nước và ra nước ngoài, để tiếp cận nhanh hơn với công
nghệ, kỹ thuật hiện đại của thế giới..., tuy nhiên thách thức cũng
không ít.
Nếu các DN "quá lạc
quan, thậm chí chủ quan" thì cần phải nghiêm túc xem lại. Tuy nhiên
cũng không nên quá bi quan đối với quá trình này bởi vì lĩnh vực bưu
chính viễn thông và CNTT đã có thời gian khá dài cho tập dượt cạnh
tranh, mở cửa thị trường, cụ thể là:
Về mặt kỹ thuật, nghiệp
vụ: do đặc thù của lĩnh vực bưu chính viễn thông đây là ngành sản xuất
mang tính xã hội hóa cao, phạm vi thông tin, bất luận là thông tin kinh
tế, xã hội hay tin tức cá nhân đều không thể giới hạn trong một phạm
vi, một bộ phận nào đó mà nó được tiến hành cho cả cộng đồng, trong cả
quốc gia và thậm chí trong phạm vi thế giới; quy trình sản xuất của bưu
chính viễn thông không được gián đoạn, phải đảm bảo toàn trình, toàn
mạng, không thể phân cắt.
Chính vì lẽ đó mà hơn 20
năm đổi mới vừa qua, bưu chính viễn thông đã được giao nhiệm vụ đi đầu
trong hội nhập và thực tế mạng lưới bưu chính viễn thông Việt Nam đã
được đấu nối hòa mạng với các mạng của tất cả các nước và vùng lãnh thổ
trên thế giới, tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn dịch vụ phải tương thích
với mạng toàn cầu.
Về mặt kinh tế, thương
mại: để đấu nối được với mạng toàn cầu, ngoài phần kỹ thuật, các DN
Việt Nam phải đàm phán để thỏa thuận ăn chia với các nước, phải tiếp
cận với quy tắc quốc tế về phân chia cước kết nối với các nhà khai thác
khác trên thế giới.
Về mặt sản xuất, xuất
nhập khẩu trang thiết bị: đây là lĩnh vực mà Nhà nước ta có chủ trương
thúc đẩy cạnh tranh rất sớm, Nhà nước đã giảm tối đa sự bảo hộ cho lĩnh
vực này, cho phép và tạo điều kiện cho tất cả các thành phần kinh tế
tham gia, khuyến khích liên doanh, liên kết với nước ngoài, chính vì
vậy mà các sản phẩm điện tử, viễn thông, CNTT do Việt Nam sản xuất được
cũng đã chiếm được khá lớn thị trường trong nước và đã có xuất khẩu.
- Theo ông, các DN
sẽ phải đối mặt với những nguy cơ nào sau khi Việt Nam trở thành thành
viên của WTO? Cần phải khắc phục những nguy cơ này như thế nào?
Khi chính thức trở thành
thành viên WTO, sự cạnh tranh chắc chắn sẽ khốc liệt hơn đặc biệt đối
với phần kinh doanh dịch vụ vì theo cam kết của chúng ta, thị trường
dịch vụ không có hạ tầng mạng sẽ mở rộng hơn so với cam kết trong Hiệp
định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA), bên nước ngoài khi liên doanh
có quyền nâng mức góp vốn lên cao hơn, khả năng kiểm soát của nước
ngoài đối với việc điều hành kinh doanh dịch vụ cũng lớn hơn...đây cũng
chính là nguy cơ mà các DN phải đối mặt.
Để giảm thiểu tối đa các
nguy cơ, hay nói cách khác, để tăng năng lực cạnh tranh của mình, theo
tôi, các DN cần: tiếp tục tăng cường tiềm lực: tuy chúng ta đã đầu tư
và xây dựng được một hệ thống mạng lưới với công nghệ khá hiện đại (với
tỷ lệ số hóa đạt gần 100%) song quy mô về mạng lưới, số lượng thuê bao,
quy mô về vốn còn rất khiêm tốn.
Muốn vậy cần phải quyết
liệt hơn nữa trong việc đổi mới sự hoạt động và quản lý của DN, tìm mọi
biện pháp để thu hút đầu tư và tích lũy vốn (cổ phần hóa, tăng cường
liên doanh, liên kết, xác định đúng được đối tác chiến lược...). Phát
triển nhanh để mở rộng phạm vi thị trường trong nước, điều quan trọng
là phải giữ được khách hàng, muốn vậy phải nâng cao hơn nữa chất lượng
dịch vụ, chất lượng phục vụ, chăm sóc khách hàng và cước phí phù hợp;
đồng thời phải chủ động mở rộng ra thị trường ngoài nước.
(Theo TBKT)
(Theo VNN)
|