Với chức năng xác thực danh tính cá nhân, tổ chức, cơ
quan trên Internet, chữ ký số đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát
triển của thương mại điện tử và chính phủ điện tử.
VnExpress đã trao đổi với bà Lê Thị Ngọc Mơ, Phó vụ trưởng Vụ Viễn thông Bộ Bưu chính viễn thông, về vấn đề này.
 |
| Bà Lê Thị Ngọc Mơ. Ảnh: Hoàng Hà. |
- Là Tổ trưởng Tổ Biên tập Nghị định
hướng dẫn chi tiết Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và chứng thực
chữ ký số, xin bà cho biết tầm quan trọng của vấn đề này?
- Điều đầu tiên cần phân biệt rõ ràng 2 khái niệm chữ
ký điện tử và chữ ký số. Trên môi trường mạng, bất cứ dạng thông tin
nào được sử dụng để nhận biết một con người đều được coi là chữ ký điện
tử. Ví dụ 1 đoạn âm thanh hoặc hình ảnh được chèn vào cuối e-mail, đó
cũng là chữ ký điện tử.
Chữ ký số là một dạng chữ ký điện tử, an toàn nhất và
cũng được sử dụng rộng rãi nhất. Chữ ký này hình thành dựa trên kỹ
thuật mã khoá công khai (PKI), theo đó mỗi người sử dụng cần có một cặp
khóa bao gồm khóa bí mật và công khai. Người chủ chữ ký sử dụng khoá bí
mật để tạo chữ ký số (trên cơ sở kết hợp với nội dung thông điệp dữ
liệu), ghép nó với thông điệp dữ liệu và gửi đi. Người nhận dùng mã
công khai giải mã chữ ký số để biết được người đó là ai. Tất cả quy
trình ký và giải mã chữ ký số đều được thực hiện bằng phần mềm.
Điểm quan trọng là các cặp khóa trên do những nhà
cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số (Certification Aithority - CA)
cấp (hoặc xác minh là đủ điều kiện an toàn) sau khi đã kiểm tra, xác
minh chủ của nó (cá nhân, tổ chức) là có thực. Đồng thời, nhà cung cấp
dịch vụ cũng giao cho cá nhân, tổ chức đó một chứng thư số - tương
đương như chứng minh thư nhân dân hay giấy xác nhận sự tồn tại của cơ
quan, tổ chức trên môi trường mạng. Chứng thư đó có chứa khóa công khai
của tổ chức, cá nhân và được duy trì tin cậy trên cơ sở dữ liệu của nhà
cung cấp dịch vụ chứng thực, do vậy người nhận có thể truy cập vào cơ
sở dữ liệu đó để xác minh xem đúng là có người đó hay không.
- Việc ứng dụng chữ ký số tại Việt Nam hiện nay như thế nào?
- Ở Việt Nam, một số đơn vị trong ngành kho bạc, ngân
hàng, thương mại đã ứng dụng thử nghiệm chữ ký số trong các giao dịch
nội bộ. Trên thực tế, Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn xây dựng hành
lang pháp lý và mô hình tổ chức để triển khai chính thức công cộng.
Trong Luật Giao dịch điện tử có điều chỉnh chung về
chữ ký điện tử. Tuy nhiên, trong các loại chữ ký điện tử chỉ có chữ ký
số đang được sử dụng phổ biến trên thế giới cùng với những luật quy
định chi tiết. Vì vậy Nghị định nói trên chỉ quy định chi tiết về chữ
ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số.
Cũng cần nói thêm việc xây dựng văn bản pháp luật cho
chữ ký số hoàn khác biệt so với những văn bản khác vì nó đi trước hiện
thực cuộc sống, điều chỉnh những quan hệ dự tính sẽ xảy ra. Vì vậy, cơ
sở để xây dựng chủ yếu là học tập kinh nghiệm từ những nước đã xây dựng
thành công hệ thống chữ ký số như Trung Quốc, Hàn Quốc, Hungary… kết
hợp với kinh nghiệm của những đơn vị đã thử nghiệm tại Việt Nam.
- Tinh thần chung của quản lý nhà nước đối với dịch vụ chứng thực chữ ký số là gì?
- Chứng thực chữ ký số là một dịch vụ mới (chưa có ở
Việt Nam), mang tính pháp lý cao, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi
kinh tế và chính trị của những người tham gia giao dịch trên mạng.
Chúng ta chưa thể hình dung hết được tác động của dịch vụ này đến xã
hội như thế nào trong trường hợp có sai sót. Các nước như Hàn Quốc,
Trung Quốc, Malaysia, Singapore... đều có những quy định rất chặt chẽ
về điều kiện cung cấp dịch vụ bao gồm kỹ thuật, tài chính, nhân sự, đảm
bảo an toàn an ninh và nhiều quy định khác, và định kỳ kiểm tra sự tuân
thủ các điều kiện đó. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng
dịch vụ, học tập kinh nghiệm các nước, Nghị định hướng dẫn chi tiết
Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và chứng thực chữ ký số đã được dự
thảo theo nguyên tắc trong giai đoạn đầu quản lý chặt chẽ trên cơ sở
vẫn đảm bảo có cạnh tranh. Sau một thời gian sẽ xem xét điều chỉnh cho
phù hợp.
- Vấn đề con dấu của cơ quan, tổ chức sẽ được giải quyết thế nào trong môi trường mạng?
- Dự thảo này đã soạn theo phương án chữ ký số của
người có thẩm quyền của một cơ quan tổ chức thì có giá trị tương đương
chữ ký tay của người đó đã được đóng bởi con dấu của đơn vị. Như vậy,
mỗi thông điệp dù là của cơ quan tổ chức hay không đều chỉ cần ký một
lần là đủ. Thực tế, nếu chúng ta áp dụng đúng mô hình truyền thống gồm
một lần ký và một lần đóng dấu sẽ có nhiều bất cập. Chữ ký tay của
người có thẩm quyền do con người tự tạo ra, có thể thay đổi hoặc bị làm
giả, nên mới cần một con dấu do Bộ Công an cấp để xác thực chữ ký đó.
Chữ ký số không phải do người ký tự tạo ra và rất khó làm giả, nên việc
đóng thêm con dấu là thừa, mất đi tính nhanh gọn của môi trường trực
tuyến. Đó là chưa kể đến những phức tạp trong việc bảo quản và giữ chữ
ký số của cơ quan như thế nào.
Vấn đề còn tiếp tục được thảo luận là ai sẽ cấp chữ
ký số tương đương con dấu cho tổ chức. Giải pháp đề nghị là Thủ tướng
và Bộ Công an sẽ thành lập một cơ quan cung cấp dịch vụ chứng thực chữ
ký số hoặc chỉ định một đơn vị đang hoạt động để chuyên cung cấp loại
chữ ký số này.
- Dự kiến khi nào Nghị định này sẽ được đưa vào cuộc sống, thưa bà?
- Ngày 25/8, Bộ Bưu chính viễn thông sẽ tổ chức hội
nghị để tiếp tục thảo luận lấy ý kiến xây dựng từ các chuyên gia, cơ
quan bộ ngành liên quan. Nếu làm việc tích cực, cuối tháng 9 có thể
hoàn tất để trình Chính phủ nghiệm thu và phê duyệt.
Nội dung Dự thảo lần 8 của Nghị định cũng đã được đưa
lên website của Bộ để người dân có thể tham khảo rộng rãi. Ý kiến đóng
góp xin gửi về văn phòng Bộ hoặc qua e-mail tại địa chỉ tt_tt@mpt.gov.vn.
Hưng Hải thực hiện
(Theo VNExpress)