|
| ông Nguyễn Long, Tổng Thư ký Hội tin học VN. |
|
Đây
là lý do chính khiến trong Chương trình hành động năm 2007, Hội Tin học
VN đã đề xuất và kêu gọi sự hợp tác, tài trợ để xây dựng đề án "Xây
dựng trường Đại học Khoa học CNTT-TT". Môt đề án khác mang tên "Xã hội
hoá phần mềm nguồn mở" do Hội chuẩn bị cũng đang được kỳ vọng rất
nhiều. Xung quanh hai vấn đề này, phóng viên VnMedia đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Long, Tổng Thư ký Hội tin học VN. PV:
Vậy là một năm nữa lại qua, và Hội Tin học đã xây dựng xong Chương
trình hành động cũng như Lịch sự kiện hoạt động năm 2007 tới. Nhìn lại
năm cũ, ông đánh giá như thế nào về tình hình phát triển của CNTT Việt Nam? Tổng thư ký Hội Tin học VN Nguyễn Long:
Năm 2006 đã có nhiều sự kiện đáng ghi nhận, chẳng hạn như Thủ tướng đảm
nhận làm Trưởng ban chỉ đạo CNTT quốc gia; Sự ra đời các Luật Giao dịch
điện tử và Luật CNTT. Nhưng theo tôi, tất cả những yếu tố tiếp theo để
tạo nên sự thay đổi, biến chuyển về chất lượng nhằm thúc đẩy CNTT cũng
như thúc đẩy quá trình xây dựng đất nước thì đến nay thực hiện còn
chậm, còn những thách thức. Ngành CNTT Việt Nam
đã đi chậm mất một năm. Đúng ra khi hết năm bản lề 2005 và năm 2006 vừa
rồi chúng ta cũng đã đạt được những thành tựu song chúng ta vẫn bị
chậm. Một trong những cái đã chậm đó là sách lược quốc gia về CNTT của
chúng ta. Từ khi có chỉ thị 58 của Bộ Chính trị đến nay cần đánh giá và
tổng kết lại xem những bước đi tiếp theo như thế nào phải cách đây một
năm rồi vẫn chưa thực hiện được. Năm 2006 đã là năm bắt đầu của kế
hoạch 5 năm mà vẫn chưa được khởi động gì nhiều. Theo ông, trong năm 2007 này, Việt Nam cần có những chiến lược gì để thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của CNTT? Cuối
quý I, đầu quý II/2007 Hội Tin học VN sẽ bắt tay thực hiện đề án “Xã
hội hoá phần mềm nguồn mở”. Trước hết sẽ tổ chức hội thảo để lựa chọn,
sau đó xây dựng những trung tâm hỗ trợ và triển khai đến từng doanh
nghiệp, những người dân có nhu cầu sử dụng khi chưa có đủ kinh phí để
mua những sản phẩm thương mại. Thời gian thực hiện đề án này dự kiến từ
2007 đến 2010. Thời điểm này, song song với dự án Xã hội hoá PMNM, Hội
cũng sẽ thực hiện Đề án xây dựng Đại học Khoa học về CNTT-TT. | Đầu
tiên phải nói tới môi trường chính sách cũng như khẳng định vị thế của
Ban Chỉ đạo quốc gia về CNTT. Cần có sự thực hiện thống nhất và phối
hợp theo các văn bản pháp quy mà Quốc hội đã thông qua như Luật CNTT,
Luật Giao dịch điện tử, tất cả các nghị định tiếp theo hay chiến lược
phát triển ngành. Các chính sách phải được cụ thể hoá để làm sao ngành
CNTT có một kế hoạch, quy hoạch hẳn hoi.
Và
cần phải có nguồn vốn, nguồn lực để thực hiện. Chúng tôi mong rằng năm
2007, ngay từ những ngày đầu năm sẽ thống nhất được sự chỉ đạo, điều
hành, định hướng phát triển CNTT trong đó có ứng dụng CNTT, Công nghiệp
CNTT, nguồn lực CNTT và những vấn đề khác để cho doanh nghiệp và xã hội
hưởng lợi từ những chính sách minh bạch, sáng tỏ, cùng những định hướng
của quốc gia. Với
riêng mình, trong Chương trình hành động của Hội Tin học Việt Nam 2007
có đề ra việc xây dựng ba đề án trong đó nổi bật là đề án Xã hội hoá
phần mềm nguồn mở và đề án Xây dựng Đại học Khoa học về CNTT-TT. Ông có
thể cho biết mục đích cũng như kỳ vọng của Hội khi xây dựng hai đề án
này? Với
đề án Xã hội hoá phần mềm nguồn mở chúng tôi xây dựng từ nhận thức hội
nhập WTO. Khi chưa hội nhập, những gì liên quan tới máy tính, phần mềm
Việt Nam
người dân VN hầu như đều sử dụng theo thói quen. Cứ dùng mà không biết
cái mình sử dụng như thế nào. Đến cả việc xem túi mình có đủ tiền để sử
dụng cái đó không cũng chưa ai nhìn. Thói
quen đó thể hiện ngay cả những doanh nghiệp cung ứng những chiếc máy
tính đầu tiên ra, những doanh nghiệp phần mềm cũng chưa nhận thức hết
dẫn tới việc vi phạm bản quyền phần mềm, tranh chấp bản quyền... Những
vấn đề đó đã xảy ra rất nhiều trong năm 2006. Thời
điểm hội nhập WTO còn đặt ra cho chúng ta rất nhiều vấn đề. Ngoài việc
tôn trọng bản quyền ra, Luật Cạnh tranh cũng đòi hỏi rất cao. Chúng ta
phải theo khả năng kinh tế và trình độ của mình để sử dụng. Nhưng nhận
thức của chúng ta về vấn đề đó lại chưa tốt. Phải tăng cường nhận thức
tôn trọng bản quyền phần mềm. Thứ
hai, tôn trọng bản quyền nhưng chúng ta lại không đủ tiềm lực kinh tế,
tiềm lực tài chính thì cần có sản phẩm thay thế. Dự án xã hội hoá phần
mềm nguồn mở của chúng tôi nhằm vận động giới khoa học, những người nằm
trong cộng đồng nguồn mở sẽ có những sản phẩm phù hợp để người Việt Nam
có thu nhập thấp vẫn có thể sử dụng các sản phẩm phần mềm, đồng thời
vẫn tôn trọng những cam kết hội nhập. Chúng tôi tin tưởng làm được. Tất nhiên cũng có rất nhiều các ý kiến nhưng chúng tôi tin tưởng rằng thế hệ trẻ Việt Nam, người làm khoa học của Việt Nam.
Các thành viên tham gia cộng đồng nguồn mở rất đông đang tham gia giảng
dạy, đào tạo ở các trường đại học sẽ cùng chúng tôi xã hội hoá dự án,
mang những sản phẩm đến cho người sử dụng, đồng thời giáo dục ý thức
tôn trọng bản quyền tác giả, nâng ý thức người dân khi dùng phần mềm
trước hết phải tôn trọng bản quyền. Còn về Đề án trường đại học Khoa học CNTT-TT? Cách
đây 10 năm Hội tin học đã rất thành công trong việc phổ cập tin học
theo chứng chỉ A, B, C. Nhưng thời điểm đó đã qua rồi. Hiện nay ngay cả
lứa tuổi 8X, 9X họ đã có một lượng kiến thức nhất định cơ bản về CNTT.
Hiện nay Hội tin học Việt Nam tổ chức rất nhiều các cuộc thi cho sinh
viên nhưng qua đó chúng tôi thấy thiếu vắng hẳn những trung tâm, những
trường đại học đào tạo về khoa học CNTT tiêu chuẩn quốc tế. Ngoài
các kỹ sư chúng ta còn cần đội ngũ công nhân, gia công. Hiện mới chỉ
APTECH đào tạo lập trình viên với kỹ năng CNTT thì chưa đủ, cần những
chứng chỉ chuyên sâu hơn như chứng chỉ về phần mềm nguồn mở, chứng chỉ
về mạng chẳng hạn với tiêu chuẩn quốc tế. Chúng tôi đang cố gắng hợp
tác với các tổ chức quốc tế có uy tín đưa những chứng chỉ đó về đào tạo
Việt Nam. Hội
Tin học Việt Nam muốn được sự hỗ trợ xây dựng đề án từ những người tâm
huyết với CNTT, từ các chuyên gia để làm sao đủ 25% số giáo viên cơ hữu
có bằng tiến sỹ, xây dựng được một đội ngũ giảng viên đẳng cấp quốc tế.
Việc khả thi của thành lập đề án đại học khoa học về CNTT - TT là mong
muốn của cả ban chấp hành và Hội tin học Việt Nam. Cụ
thể hơn, để có thể thực hiện thành công đề án trên, Hội Tin học Việt
Nam sẽ cần những sự hỗ trợ như thế nào từ phía cơ quan quản lý nhà nước
cùng như cộng đồng doanh nghiệp CNTT? Hội
Tin học là một tổ chức xã hội nghề nghiệp. Thứ nhất chúng tôi tuân thủ
theo pháp luật. Lợi thế của chúng tôi là Hội đại diện xã hội nghề
nghiệp cho cộng đồng tin học Việt Nam với hơn 20.000 hội viên từ cơ
quan quản lý nhà nước, các viện nghiên cứu tới doanh nghiệp, cộng đồng
xã hội. Chúng
tôi hy vọng sẽ được ủng hộ về mặt chính sách, cơ chế. Thứ nhất, chúng
tôi được sự hỗ trợ, ủng hộ đặc biệt của nhà nước về mặt cơ chế chính
sách. Thứ hai, chúng tôi sẽ được sự ủng hộ của doanh nghiệp, nguồn lực
đào tạo ra các doanh nghiệp sẽ sớm tiếp nhận. Thứ
ba, từ trường đại học này chúng tôi sẽ hình thành các trung tâm nghiên
cứu để đưa nhanh các sản phẩm nghiên cứu, sáng tạo đến được doanh
nghiệp và áp dụng vào cuộc sống. Đó là cơ sở được hình thành từ quan hệ
rất gắn kết giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân cùng nhu cầu học
tập CNTT ở trình độ quốc tế. Xin cảm ơn ông!
Thủy Nguyên (thực hiện) (Theo VnMedia)
|